Các giai đoạn của bệnh sốt xuất huyết
Khi bị sốt xuất huyết, người bệnh sẽ trải qua 3 giai đoạn: Giai đoạn sốt, giai đoạn nguy hiểm, giai đoạn khôi phục.
- Giai đoạn sốt
Sau khi bị nhiễm vi rút Dengue từ muỗi, người bệnh sẽ ủ bệnh từ 4 – 7 ngày, có khi tới 14 ngày (2), sau đó mới xuất hiện các biểu hiện sốt. Đây là giai đoạn sốt, bệnh nhân có thể sốt cao liên tục hoặc sốt cao đột ngột từ 39 – 40 độ C (3), uống thuốc hạ sốt nhưng không giảm sốt.
Ngoài ra, bệnh nhân có thể sẽ có các triệu chứng đi kèm như: Mệt mỏi rũ rượi, đau họng, đau vùng thượng vị và tiêu chảy, đau đầu, nhức hai bên hốc mắt, da xung huyết, chảy máu chân răng hoặc chảy máu mũi, phát ban, chán ăn, buồn nôn, đau nhức các cơ khớp,…
Đối với trẻ em, triệu chứng phổ biến là sốt kèm theo đau họng và đau bụng. Sau 3 ngày trẻ sẽ hạ sốt, đến ngày thứ 8 thường xuất hiện xuất huyết nhẹ như: Chấm xuất huyết dưới da, chảy máu mũi. Sau khi hạ sốt, bé có thể sẽ xuất hiện các nốt ban ở mình, sau đó lan đến mặt, các chi, lòng bàn tay và bàn chân gây ngứa.
- Giai đoạn nguy hiểm
Ở giai đoạn nguy hiểm diễn ra từ ngày 3 – 7 sau khi bị sốt ngày đầu tiên. Người bệnh có thể giảm hoặc còn sốt, lúc đó sẽ xuất hiện một số trường hợp nhiễm trùng thứ phát có biểu hiện hạ tiểu cầu và cô đặc máu. Các biểu hiện xuất huyết có thể xảy ra hoặc không. Người bệnh sốt xuất huyết ở giai đoạn nguy hiểm có thể đối mặt với những triệu chứng nặng như:
- Các triệu chứng của thoát huyết tương do bị tăng tính thấm thành mạch.
- Người bệnh có thể bị tràn dịch phổi và có các triệu chứng như: Đau ngực khi thay đổi tư thế, căng tức nặng ngực và khó thở.
- Triệu chứng nặng khi bị tràn dịch màng bụng như: Chướng bụng, bụng to nhanh.
- Đau tức vùng dưới sườn hoặc vùng thượng vị do gan phình to, vật vã, li bì, lạnh chân tay, da lạnh ẩm toàn thân, tiểu ít.
- Xuất huyết dưới da: Xuất hiện các nốt xuất huyết hoặc các mảng xuất huyết, thường sẽ có ở mặt trước 2 chân, và mặt trong 2 cánh tay, đùi, mạng sườn, bụng.
- Tình trạng nguy hiểm hơn khi xuất huyết nội tạng đường tiêu hóa, xuất huyết ở phổi và não với các triệu chứng như: Nôn ra máu, đi tiểu ra máu, ho ra máu, ra máu bất thường ở âm đạo, rong kinh,…
- Các biến chứng nặng mà người bệnh sốt xuất huyết có thể phải đối mặt ở giai đoạn nguy hiểm như: Viêm gan nặng, viêm cơ tim, viêm não, suy thận.
Những biến chứng nặng có thể xảy ra ở một số người bệnh không có các dấu hiệu thoát huyết tương hoặc không bị sốc. Trong giai đoạn này, người bệnh cần được chăm sóc tốt, quan sát kỹ các triệu chứng của bệnh; nếu có các triệu chứng trở nặng như trên cần đưa đến bệnh viện cấp cứu kịp thời.
Ba mẹ cần quan tâm kỹ các triệu chứng ở trẻ để tránh những biến chứng nguy hiểm
- Giai đoạn hồi phục
Sau khi qua giai đoạn nguy hiểm từ 1 – 2 ngày, người bệnh hết sốt, sức khỏe dần hồi phục, huyết áp ổn định, tiểu nhiều hơn và thèm ăn. Các chỉ số xét nghiệm dần trở về mức bình thường.
Ở giai đoạn này, người nhà bệnh nhân cần lưu ý: Chăm sóc người bệnh cẩn thận và đúng cách, không được lơ là các triệu chứng bất thường dù bệnh nhân có biểu hiện hồi phục. Giai đoạn này, nếu không được chăm sóc kỹ người bệnh có thể bị phù phổi hoặc suy tim.
5. Các bệnh về hô hấp
Viêm hô hấp trên:
Viêm hô hấp trên là từ chỉ chung cho các bệnh: viêm họng, viêm amidan, viêm mũi, viêm xoang,… là nhóm bệnh phổ biến nhất ở trẻ em. Bệnh chủ yếu gây ra bởi các siêu vi như Influenza, Parainfluenza, Adeno, Rhino, Entero, Corona…một số khác gây ra bởi các vi khuẩn như: phế cầu, liên cầu trùng nhóm A… Bệnh biểu hiện đa dạng với các triệu chứng: sốt, ho, chảy mũi, hắt xì, họng đỏ đau, đau nhức cơ thể,… Đa số diễn tiến tương đối nhẹ và có thể tự khỏi, tuy nhiên ba mẹ vẫn theo dõi kỹ tình trạng của trẻ, nếu triệu chứng nặng hơn, có các dấu hiệu nên đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được thăm khám và điều trị.
Viêm tiểu phế quản:
Viêm tiểu phế quản là bệnh thường gặp nhất trong các bệnh viêm đường hô hấp dưới do virus ở trẻ em. Bệnh khởi phát ban đầu với các triệu chứng hô hấp trên và nhiễm siêu vi như sốt, ho, chảy mũi, sau đó đến viêm đường hô hấp dưới như khó thở, thở khó khè. Ba mẹ cần lưu ý các dấu hiệu nặng để đưa trẻ đi khám ngay để được chẩn đoán và xử trí kịp thời (thở nhanh, thở không đều, có cơn ngừng thở, tím, tái xanh, bứt rứt, kích thích…)
Để phòng tránh các bệnh về đường hô hấp ở trẻ nói chung ba mẹ cần lưu ý:
Vệ sinh mũi họng bé bằng dung dịch nước muối sinh lý (NaCl 0,9%) đúng cách
- Giữ ấm cổ, ngực cho bé khi ngủ
- Rửa tay bằng xà phòng cho bé trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh
- Lau dọn nhà cửa sạch sẽ, thoáng mát
- Vệ sinh sạch và sát trùng vật dụng, đồ chơi, đồ gặm nướu... của bé
- Hạn chế đưa bé đến nơi đông người trong mùa dịch bệnh
- Đeo khẩu trang cho bé khi ra ngoài
- Tiêm phòng vaccine cúm cho trẻ hàng năm (trẻ từ 6 tháng trở lên)

6. Bệnh tay chân miệng
Bệnh tay chân miệng là bệnh truyền nhiễm do siêu vi đường ruột thuộc nhóm Coxasackieviruses và Enterovirus 71 (EV71) gây ra. Triệu chứng chính của bệnh là sang thương dạng bóng nước ở các vị trí đặc biệt như trong miệng, lòng bàn tay bàn chân, mông, đầu gối. Bệnh có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm, thậm chí dẫn đến tử vong nếu không được phát hiện sớm và xử trí kịp thời. Bệnh thường hay gặp ở độ tuổi dưới 5.
Do đặc tính là bệnh truyền nhiễm dễ lây lan, bệnh thường bùng phát mạnh ở những môi trường tập trung như: nhà trẻ, trường học hay nơi sinh hoạt tập thể. Hiện chưa có vắc xin phòng bệnh, cách tốt nhất để phòng tránh căn bệnh này thực hiện tốt các biện pháp vệ sinh bao gồm cả vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường xung quanh trẻ: thực hiện ăn chín uống sôi, thường xuyên rửa tay bằng xà phòng, trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh.
7. Bệnh đau mắt đỏ
Đau mắt đỏ ở trẻ em chủ yếu là do virus Adenovirus, một số ít trường hợp có thể do vi khuẩn gây ra. Môi trường ẩm thấp, nhiều khói bụi, vệ sinh kém, rất dễ khiến bệnh bùng phát. Trẻ hay có thói quen dụi mắt rất dễ bị đau mắt đỏ, hoặc nếu trẻ tiếp xúc hay chơi chung với trẻ bị đau mắt đỏ khác thì khả năng lây nhiễm sẽ cao.
Biểu hiện của bệnh là phần tròng trắng của mắt chuyển sang màu đỏ. Trẻ cảm giác cộm xốn, khó chịu, có nhiều ghèn. Một số trường hợp sẽ có giả mạc (lớp màng trắng dưới mi). Trẻ cũng thường có kèm các triệu chứng như sốt nhẹ, ho khan, có hạch...
Bệnh thường giới hạn sau 7 - 10 ngày, một số trường hợp có thể gây diễn tiến nặng biến chứng đau mắt hột, viêm mãn tính, viêm loét giác mạc, sẹo giác mạc, giảm thị lực...
Một số biện pháp chăm sóc khi trẻ bệnh như sau:
- Vệ sinh mọi vật dụng vật dụng của trẻ như chăn mền, ga gối, khăn mặt.
- Trẻ nên có khăn mặt riêng, dụng cụ vệ sinh các nhân riêng.
- Vệ sinh mắt hàng ngày bằng nước muối sinh lý. Để trẻ nằm nghiêng, dùng nước muối rửa ghèn trong mắt, sau đó nhẹ nhàng lau sạch ghèn mắt bằng khăn mềm ẩm hoặc bông gòn.
- Không chữa đau mắt đỏ cho trẻ bằng phương pháp dân gian
8. Nhiễm giun
Nhiễm giun là tình trạng rất phổ biến ở trẻ em, đặc biệt là ở Việt Nam do điều kiện vệ sinh ăn uống, cách sinh hoạt, mật độ dân số và môi trường xung quanh còn tương đối thấp, dễ tạo điều kiện cho giun có thể lây lan. Một số loài giun nhiễm phổ biến ở trẻ là: giun đũa, giun kim, giun móc,….
Triệu chứng của trẻ bị nhiễm giun thường gặp: đau bụng vùng rốn, thường tái đi tái lại nhiều lần, trẻ khó ngủ, hay gãi do ngứa vùng hậu môn vào ban đêm (giun kim), trẻ biếng ăn, rối loạn tiêu hoá (lúc tiêu chảy lúc táo bón), trẻ chậm lên cân, có các biểu hiện của thiếu hụt chất dinh dưỡng, vitamin,…
Điều trị và phòng ngừa bằng cách cho trẻ uống thuốc tẩy giun. Nên tẩy giun định kỳ cho trẻ trên 1 tuổi 6 tháng 1 lần. Tập cho trẻ rửa tay bằng xà bông trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh. Thực hiện ăn chín, uống sôi, tránh để trẻ đi chân đất, không cho trẻ bò trườn dưới đất, không để trẻ cắn móng tay.
9. Bệnh viêm tai giữa
Viêm tai giữa là một bệnh phổ biến trong các bệnh thường gặp ở trẻ mầm non, là bệnh lý về tai phổ biến nhất ở trẻ, thường đi kèm hoặc là hậu quả do các bệnh vùng tai mũi họng ở trẻ như viêm họng, viêm amidan, viêm VA, viêm xoang …
Biểu hiện bệnh bằng các triệu chứng: Sốt, có thể sốt cao > 39 độ C, ghi nhận chảy mủ, chảy dịch từ ống tai, trẻ khó chịu hay kéo vành tai, quấy khóc, khó ngủ, chán ăn, bỏ bú, trẻ lớn có thể thấy đau đầu, giảm khả năng nghe…
Hầu hết trẻ bị viêm tai giữa dạng nhẹ có thể tự giới hạn và thuyên giảm sau vài ngày. Tuy nhiên nếu ba mẹ thấy trẻ có biểu hiện sốt cao, chảy mủ dịch từ tai, trẻ đừ, nhiều bỏ ăn, bỏ bú,… thì tốt nhất nên đưa đến cơ sở y tế để có thể khám và điều trị kịp thời.
Phòng tránh bệnh viêm tai giữa ở trẻ bằng cách:
- Chích ngừa phế cầu. Phế cầu khuẩn là một trong những tác nhân phổ biến nhất gây viêm tai giữa ở trẻ em. Do đó, chủ động chích ngừa phế cầu sẽ giúp giảm đáng kể nguy cơ viêm tai giữa ở trẻ. Hiện nay, trẻ từ 2 tháng tuổi đã có thể khởi động mũi vắc xin ngừa phế cầu đầu tiên.
- Giữ tai trẻ ở tình trạng khô ráo, tránh đọng nước.
- Tránh dùng tăm bông ngoáy sâu vào trong tai dễ gây tổn thương cấu trúc bên trong, tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển gây viêm tai.
- Giữ vệ sinh, giữ ấm cho trẻ tránh các bệnh lý vùng tai mũi họng có thể dẫn đến viêm tai giữa ở trẻ.
- Tăng cường sức đề kháng bằng cách cho trẻ ăn uống đầy đủ chất, bổ sung rau xanh, trái cây, vitamin và khoáng chất,…
