Bệnh do vi rút Nipah được ghi nhận lần đầu tiên vào năm 1998 tại Ma-laixi-a trên những người chăn nuôi lợn. Từ năm 1998 đến tháng 01/2026, trên thế giới ghi nhận tổng cộng 748 trường hợp mắc, trong đó 442 trường hợp tử vong (tỷ lệ tử vong/mắc = 59%). Hầu hết mọi người đều có sốt và triệu chứng liên quan đến viêm não (đau đầu, lú lẫn) và hoặc liên quan đến phổi (ho, khó thở). Các triệu chứng thường gặp khác là ớn lạnh, mệt mỏi, buồn ngủ, chóng mặt, nôn mửa và tiêu chảy. Một số trường hợp đặc biệt có thể xuất hiện viêm phổi không điển hình hoặc suy hộ hấp cấp tính nặng. Ở trường hợp nặng, các cơn co giật và viêm não diễn tiến rất nhanh, bệnh nhân tiến triển sang hôn mê sâu chỉ trong vòng 24 đến 48 giờ.
Dơi ăn quả thuộc họ Pteropodidae, đặc biệt là các loài thuộc chi Pteropus
(thường gọi là dơi ngựa) được coi là vật chủ tự nhiên của NiV và có mặt ở nhiều
khu vực khác nhau của châu Á và châu Úc. Dơi ăn quả nhiễm NiV thường
không có biểu hiện triệu chứng rõ ràng, nhưng có thể đào thải vi rút qua nước
bọt, nước tiểu và phân. Đáng chú ý, dơi đang mang thai đào thải nồng độ vi rút
cao hơn trong suốt mùa đông, thời điểm này trùng với mùa thu hoạch và tiêu
thụ nhựa cây chà là tươi tại các vùng lưu hành dịch. Vật chủ trung gian được
ghi nhận có lợn (chủ yếu trong đợt dịch tại Ma-lai-xi-a), ngựa hoặc các gia súc
khác (dê, cừu và chó).
Bệnh lây truyền sang người chủ yếu qua ba con đường: tiếp xúc trực tiếp với
động vật bị nhiễm bệnh hoặc dịch tiết của chúng (nước tiểu, nước bọt...); sử dụng
thực phẩm bị ô nhiễm bởi dịch tiết của dơi, động vật nhiễm NiV (như nước nhựa
cây chà là, trái cây bị dơi cắn,...); và tiếp xúc trực tiếp với dịch cơ thể của bệnh nhân. Các trường hợp lây từ người sang người đã được ghi nhận trong các cơ sở
y tế và ở thành viên gia đình có chăm sóc bệnh nhân thông qua tiếp xúc gần hoặc
với dịch tiết của bệnh nhân mắc bệnh do NiV. Nguy cơ lây lan tại cơ sở y tế có
thể tăng cao trong môi trường bệnh viện quá tải, thông khí kém và việc thực hiện
các biện pháp phòng ngừa, kiểm soát nhiễm khuẩn không đầy đủ.
CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG BỆNH
- Rửa tay với xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn sau khi giết mổ, tiếp xúc với
động vật theo quy định.
- Hạn chế tiếp xúc gần với người mắc, nghi ngờ mắc, trường hợp tử vong do
mắc bệnh do NiV và động vật có khả năng lây truyền cao (đặc biệt là dơi ăn quả).
- Thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm: ăn chín, uống chín, rửa sạch và gọt vỏ
trái cây trước khi ăn, không ăn trái cây có dấu hiệu bị dơi chim cắn hoặc nước nhựa
cây sống nơi có dơi ăn quả sinh sống.
- Người tham gia giết mổ động vật có nguy cơ nhiễm bệnh phải hạn chế hoặc
không tiếp xúc với dơi và các chất bài tiết của dơi, thực hiện nghiêm các biện
pháp vệ sinh cá nhân; những người tiếp xúc với động vật có nguy cơ nhiễm bệnh
cần sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân đầy đủ; thực hiện tốt vệ sinh trong chăn
nuôi theo quy định.
- Khi đến các khu vực có dịch bệnh do NiV, chủ động thực hiện và chấp hành
các biện pháp phòng, chống dịch theo hướng dẫn của chính quyền và cơ quan y
tế của nước sở tại; khi về nước phải chủ động theo dõi sức khoẻ trong vòng 28
ngày (kể từ ngày nhập cảnh).
- Khi có triệu chứng sốt cấp tính, viêm não cấp tính (chóng mặt, lơ mơ, lú
lẫn, mất định hướng không gian và thời gian, co giật), ho, khó thở... cần hạn chế
tiếp xúc người khác và thông báo hoặc đến cơ sở y tế gần nhất để được tư vấn,
chuẩn đoán, cách ly y tế và điều trị kịp thời.
- Truyền thông, cung cấp thông tin cho người dân trong cộng đồng, tại cửa
khẩu về dịch bệnh do NiV, đường lây truyền, dẫu hiệu nhận biết và các biện pháp
phòng, chống dịch bệnh.
Hiện nay chưa có vắc xin và thuốc điều trị đặc hiệu để phòng, chống bệnh do NiV.